Trang Chủ Đăng ký Đăng nhập Upload Liên hệ
Giáo Án Mầm Non
Giáo Án Mầm Non
  • Trang Chủ
  • Nhà Trẻ
  • Khối Mầm
  • Khối Chồi
  • Khối Lá
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm
  • Video Dạy Giỏi
  • Giáo Án VIP
Trang chủ / Bài viết / SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.

SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm
📅 04/09/2026   |   ◉ 0 bình luận
Xem trước
Đang tải bản xem trước...
docDOC0 trang4⬇ 0
Tài liệu được chia sẻ miễn phí ❤️
Mời mình một cốc cà phê
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu “SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.”, để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
docxSKKN-Mot-so-bien-phap-doi-moi-hinh-thuc-gay-hung-thu-giup-tre-24-36-thang-tuoi-tich-cuc-tham-gia-hoat-dong-phat-trien-van-dong.docx
Chuyên mục: Sáng Kiến Kinh Nghiệm

Bài viết liên quan

SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5–6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo.SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5–6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo.SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.PP BIỆN PHÁP  “Thông qua trò chơi ở một số hoạt động trong ngày, rèn kỹ năng đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông đường bộ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi 3 tại trường mầm nonPP BIỆN PHÁP “Thông qua trò chơi ở một số hoạt động trong ngày, rèn kỹ năng đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông đường bộ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi 3 tại trường mầm nonSKKN Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non.SKKN Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non.
Nội dung tài liệu:

ỦY BAN NHÂN DÂN
TRƯỜNG MẦM NON

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI HÌNH THỨC GÂY HỨNG THÚ
GIÚP TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI TÍCH CỰC THAM GIA HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN VẬN ĐỘNG
Tên tác giả:
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:

……., tháng /2026
MỤC LỤC
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: 1
2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến: 1
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 1
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 2
1. Thực trạng vấn đề (Nêu rõ cách làm cũ, phân tích nhược điểm): 2
1. Cách làm cũ, phân tích nhược điểm: 2
2. Thực trạng 2
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề (Nêu rõ cách làm mới, có tính sáng tạo, hiệu quả, cách thức cụ thể triển khai thực hiện) 4
1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch phát triển vận động giúp giáo viên lựa chọn những bài vận động phù hợp 5
2. Biện pháp 2: Lấy trẻ làm trung tâm khi tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng vận động. 7
3. Biện pháp 3: Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt động khác trong ngày 8
4. Biện pháp 4:Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với hoạt động rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ 11
5. Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh trong việc rèn các kỹ năng vận động cho trẻ 14
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 15
4. Hiệu quả của sáng kiến: 16
1. Hiệu quả về khoa học: 16
2. Hiệu quả về xã hội: 16
5. Tính khả thi (khả năng áp dụng vào thực tiễn công tác của đơn vị, địa phương…) 16
6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: 16
7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến: 17
3. KẾT LUẬN 18
1. Kết quả của việc ứng dụng sáng kiến: 18
2. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu: 18
3. Những kiến nghị, đề xuất: 19
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến:
Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến sức khỏe con người. Người từng căn dặn:“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”. Đối với trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 24–36 tháng tuổi, việc rèn luyện thể chất và phát triển vận động có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần hình thành nền tảng ban đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trẻ còn nhút nhát, khả năng vận động chưa linh hoạt, chưa tích cực tham gia các hoạt động do hình thức tổ chức còn đơn điệu, chưa thực sự hấp dẫn. Ở lứa tuổi này, trẻ rất hiếu động, dễ bị thu hút bởi những yếu tố mới lạ, sinh động; nếu hoạt động thiếu đổi mới sẽ khó duy trì sự tập trung và hứng thú của trẻ. Xuất phát từ thực tế đó, việc đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến:
Đề tài được thực hiện nhằm tìm ra và áp dụng các hình thức tổ chức hoạt động linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 24–36 tháng tuổi, cụ thể:
+ Tạo hứng thú, thu hút trẻ tích cực tham gia các hoạt động phát triển vận
động

thể
________________

+ Rèn luyện và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản phù hợp với độ tuổi
+ Hình thành cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin và thói quen tham gia hoạt động tập

+ Góp phần nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động phát triển vận động trong
nhà trường
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
1. Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ 09/2025 đến tháng 03/2026
* Tháng 9/2025: Chọn đề tài, tiến hành khảo sát trẻ
* Tháng 10/2025 đến tháng 2/2026: Thực hiện đề tài
* Tháng 3/2026: Kết thúc đề tài
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động”
3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này của tôi được thực hiện với 35 trẻ lớp nhà trẻ D4.
2. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng vấn đề (Nêu rõ cách làm cũ, phân tích nhược điểm):
1. Cách làm cũ, phân tích nhược điểm:
Ở những năm học vừa rồi, bản thân tôi cũng giảng dạy tại lứa tuổi nhà trẻ, và thường dùng những phương pháp cơ bản, ít đổi mới, chưa gây được hứng thú cho trẻ, thiếu sự sáng tạo, linh hoạt còn mang tính chất đơn điệu cứng nhắc như: chỉ tiến hành các hoạt động thể chất trong giờ học phát triển vận động nên trẻ chưa được hoạt động nhiều, cũng như chưa thể hiện được hết bản thân, chưa phát triển toàn diện về mọi mặt cho trẻ. Trong quá trình tổ chức các hoạt động phát triển vận động cho trẻ 24–36 tháng tại lớp, giáo viên chủ yếu áp dụng các phương pháp truyền thống như: cho trẻ tập theo mẫu, cô làm trước – trẻ làm theo sau, tổ chức các bài tập đơn lẻ, ít có sự đổi mới về hình thức. Nội dung vận động thường lặp lại, chưa phong phú, chưa gắn với trò chơi hay tình huống thực tế nên chưa tạo được sự hứng thú cao cho trẻ.
Bên cạnh đó, việc tổ chức hoạt động còn mang tính đồng loạt, chưa chú ý đến sự khác biệt về thể chất và khả năng của từng trẻ. Một số trẻ còn rụt rè, nhút nhát chưa được khuyến khích kịp thời; trong khi đó những trẻ nhanh nhẹn lại chưa được phát huy hết khả năng. Đồ dùng, dụng cụ phục vụ hoạt động vận động còn hạn chế, chưa đa dạng, chưa thu hút trẻ tham gia tích cực.Ngoài ra, sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ chưa thực sự chặt chẽ. Phụ huynh còn chú trọng nhiều đến việc ăn uống, học chữ mà chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển vận động cho trẻ trong giai đoạn này.
Nhược điểm của cách làm cũ:
Trẻ tham gia hoạt động một cách thụ động, thiếu hứng thú. Kỹ năng vận động của trẻ phát triển chưa đồng đều.
Chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trẻ.
Hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non.
2. Thực trạng:
Năm học 2025-2026, tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhà trẻ 24-36 tháng tuổi, với 35 trẻ.
* Thuận lợi:
* Ban giám hiệu luôn quan tâm tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và các đợt dạy chuyên đề, dự giờ đồng nghiệp, hội thi cho giáo viên được học tập và rút kinh nghiệm cho bản thân.
* Đội ngũ cán bộ giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, có tinh thần nhiệt huyết với nghề, yêu thương trẻ, đoàn kết trong công việc và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
* Bản thân tôi đã nắm vững chuyên môn, luôn yêu nghề mến trẻ, ham học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
* Trẻ học cùng độ tuổi, khỏe mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào các họat động của lớp.
* Phụ huynh học sinh 100% sử dụng điện thoại thông minh nên rất thuận lợi cho việc tuyên truyền, trao đổi thông tin qua zalo nhóm lớp để cùng phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ tốt.
* Trường có sân chơi ngoài trời và phòng thể chất có đồ dùng phát triển thể chất cho trẻ.
* Khó khăn:
+ Về phía giáo viên:
* Việc tổ chức hoạt động phát triển vận động chưa thu hút, chưa giúp trẻ thấy thoải mái, giáo viên lên lớp chỉ mới dừng lại ở hoàn thành nhiệm vụ, hình thức và phương pháp chưa linh hoạt, sáng tạo, chưa quan tâm đến sở thích riêng của trẻ.
* Giáo viên chưa linh hoạt và sáng tạo trong việc xây dựng môi trường lớp học, đồ dùng đồ chơi chưa phong phú đa dạng, trẻ chưa được trải nghiệm nhiều.
+ Về phía phụ huynh:
* Ở lớp vẫn còn một số phụ huynh đi làm xa hay công việc phải tăng ca nhiều, ít quan tâm tới trẻ, để các con ở nhà với ông bà nên việc phối kết hợp với giáo viên và nhà trường còn gặp nhiều khó khăn.
+ Về phía trẻ:
* Một số trẻ chưa có nề nếp học tập, chưa biết cách chơi cùng bạn, ngôn ngữ còn khá nhiều hạn chế.
* Một số đồ dùng trực quan trong khi hoạt động còn chưa hấp dẫn nên các hoạt động phát triển vận động cho trẻ còn khô khan.
* Khả năng vận động giữa các trẻ trong lớp không giống nhau.
* Một số trẻ vẫn còn nhút nhát không tham gia vào các hoạt động của lớp.
* Một số phụ huynh chưa coi trọng việc học mà cho rằng việc cho trẻ đến trường chỉ là chơi.
+ Để thực hiện đề tài có hiệu quả tôi đã tiến hành khảo sát trẻ, cụ thể như sau:
Bảng khảo sát trẻ đầu năm học (Tháng 9/2025)

STT

Nội dung khảo sát

Tổng số trẻ
Đầu năm
Đạt
Chưa đạt
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%

1
Trẻ khỏe mạnh, cân nặng, chiều cao đảm bảo theo độ
tuổi.

35

10

28,5

25

71,5
2
Trẻ biết kĩ năng vận động
đi, chạy.
8
22,8
27
77,2
3
Trẻ biết kĩ năng vận động
bật, nhún.
7
20
28
80
4
Trẻ biết kĩ năng vận động
bò, trườn, trèo.
10
28,5
25
71,5
5
Trẻ biết kĩ năng vận động đẩy, ném, bắt, tung.
9
25,7
26
74,3

6
Trẻ biết kĩ năng vận động
khéo léo của đôi bàn tay và các ngón tay.

8

22,8

27

77,2

7
Thực hiện được một số việc tự phục vụ đơn giản, 1 số thói quen tốt trong sinh
hoạt hàng ngày.

10

28,5

25

71,5
Qua bảng khảo sát đầu năm học (tháng 9/2025) cho thấy, tỷ lệ trẻ đạt các nội dung phát triển vận động và kỹ năng còn thấp, dao động từ khoảng 20% đến dưới 30%, trong khi số trẻ chưa đạt chiếm tỷ lệ cao (trên 70%). Đặc biệt, các kỹ năng vận động như đi, chạy; bật, nhún; bò, trườn, trèo; cũng như sự khéo léo của đôi bàn tay và thói quen tự phục vụ của trẻ còn nhiều hạn chế.
Từ thực trạng đó cho thấy việc tổ chức các hoạt động vận động cho trẻ chưa thực sự thu hút và phát huy được tính tích cực của trẻ. Vì vậy, cần thiết phải đổi mới hình thức tổ chức, tạo hứng thú để giúp trẻ 24–36 tháng tích cực tham gia các hoạt động phát triển vận động, từ đó nâng cao thể lực và phát triển toàn diện cho trẻ.
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề (Nêu rõ cách làm mới, có tính sáng tạo, hiệu quả, cách thức cụ thể triển khai thực hiện)
1. Biện pháp 1: Lập kế hoạch phát triển vận động giúp giáo viên lựa chọn những bài vận động phù hợp.
* Tác dụng của biện pháp
Việc lập kế hoạch phát triển vận động một cách khoa học và phù hợp với lứa
tuổi 24–36 tháng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực trong quá trình tổ chức hoạt động cho trẻ:
* Giúp giáo viên chủ động, linh hoạt trong tổ chức hoạt động
* Đảm bảo tính hệ thống và liên tục trong phát triển kỹ năng vận động. Các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, giúp trẻ phát triển vận động một cách tự nhiên, bền vững.
* Thông qua kế hoạch, giáo viên có thể điều chỉnh mức độ vận động cho từng nhóm trẻ (nhanh, chậm, nhút nhát…), từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.
* Khi các bài vận động được lựa chọn đa dạng, phong phú, gắn với trò chơi và tình huống gần gũi, trẻ sẽ hào hứng tham gia, mạnh dạn và tự tin hơn.
* Cách thức thực hiện biện pháp
Dựa trên kế hoạch năm học của nhà trường xây dựng và căn cứ vào nội dung trong chương trình theo độ tuổi. Căn cứ vào thời gian, thời điểm thực hiện bài tập ở vào giai đoạn nào của chương trình năm học. Căn cứ vào mức độ phát triển, khả năng thực tế của trẻ, tôi đã xây dựng kế hoạch, nội dung các vận động tập luyện cho trẻ, xác định độ khó của từng bài tập và sắp xếp theo trình tự để đưa vào hướng dẫn trẻ cho phù hợp đi từ dễ đến khó đảm bảo củng cố, phát triển những vận động trẻ đã biết, đồng thời chuẩn bị cho những kỹ năng vận động cao hơn. Nội dung trong chương trình đã được trình bày theo từng loại vận động và theo mức độ tăng dần từ dễ đến khó, đồng thời phù hợp với từng chủ đề chủ điểm, phù hợp với các hoạt động khác và các sự kiện. Khi lập được kế hoạch tổ chức thì việc giáo viên tiến hành thực hiện rất hiệu quả.
Việc lập kế hoạch phát triển vận động giáo viên xác định các kỹ năng cần thiết để dạy trẻ. Khi sử dụng các mốc về kỹ năng vận động để nhóm trẻ có cùng nhu cầu với nhau từ đó chia trẻ về từng nhóm để giáo viên lựa chọn những bài tập vận động phù hợp. Tiếp đó giáo viên có thể chọn hoạt động để thực hành từng kỹ năng.
+ Có những trẻ kỹ năng giữ thăng bằng còn hạn chế xếp vào một nhóm để có bài tập vận động về giữ thăng bằng.
+ Những trẻ vận động chạy còn hạn chế xếp vào một nhóm .
+ Những trẻ chưa biết tự đi dép xếp vào một nhóm...
+ Với kỹ năng chạy giáo viên có thể chọn các bài tập như chạy thẳng hướng, chạy theo hiệu lệnh…
+ Với kỹ năng ném giáo viên chọn các bài tập như ném trúng đích, ném xa…
+ Với các kỹ năng vận động tinh giáo viên sẽ chọn các bài tập mà trẻ phải sử dụng các ngón tay, các phần cơ của bàn tay để thực hành các kỹ năng đề ra.
Giáo viên chia các hoạt động thành từng bước nhỏ trong các tuần và dần dần gia tăng độ khó của bài tập. Sau mỗi hoạt động giáo viên phải đánh giá lại kế
hoạch đã đưa ra xem liệu trẻ đã sẵn sàng với những kỹ năng vận động tiếp theo chưa hay cần phải tiếp tục thực hành những kỹ năng đó.
Căn cứ vào nội dung các vận động được sắp xếp trong chương trình theo độ tuổi. Căn cứ vào thời gian, thời điểm thực hiện bài tập ở vào giai đoạn nào của năm học. Căn cứ vào mức độ phát triển, khả năng thực tế của trẻ, xây dựng một kế hoạch nội dung các vận động tập luyện cho trẻ, xác định độ khó của từng bài tập và sắp xếp theo trình tự để đưa vào hướng dẫn trẻ cho phù hợp đi từ dễ đến khó đảm bảo củng cố, phát triển những vận động trẻ đã biết đồng thời chuẩn bị cho những vận động mới.
* Ví dụ:
+ Sắp xếp các bài tập vận động “Đi và thăng bằng” cho trẻ 24 - 36 tháng theo độ khó tăng đần như sau: Đầu tiên là bài “Đi theo hướng thẳng”, tiếp đến là “Đi trong đường hẹp”, “Đi có mang vật trên tay”, “Đi theo hiệu lệnh”
+ Sắp xếp các bài tập vận động bò: “Bò thẳng hướng”, “Bò trong đường hẹp”, “Bò theo đường gấp khúc”, “Bò chui qua cổng”, “Bò có mang vật trên lưng”
Hình ảnh minh họa: Bò chui qua cổng
+ Với các vận động khác cũng cần sắp xếp tương tự. Như vậy ta có thể lập kế hoạch cho từng nhóm vận động từ dễ đến khó như sau:
STT
Nhóm vận động
Vận động cơ bản
1
Vận động đi / chạy
* Đi theo hướng thẳng
* Đi trong đường hẹp
* Đi có mang vật trên tay
* Đi theo hiệu lệnh
* Đi trong đường hẹp có mang vật trên tay
* Đi có mang vật trên đầu
* Đi bước vào các ô
* Đi theo đường ngoằn ngoèo
-Đi theo đường ngoằn ngoèo có mang vật trên tay
* Đi bước qua vật cản
* Đi kết hợp với chạy
* Chạy theo hướng thẳng
* Chạy đổi hướng
* Đứng co 1 chân.
2
Vận động phối hợp tay/mắt
* Tung bóng bằng 2 tay
* Tung bóng qua dây
* Tung bắt bóng cùng cô

* Ném bóng về phía trước
* Ném bóng vào đích
3
Vận động phối hợp tay/chân
* Bò theo hướng thẳng
* Bò thẳng hướng theo đường hẹp
* Bò chui qua cổng
* Bò theo đường ngoằn ngoèo
* Bò thẳng hướng có mang vật trên lưng
* Bò qua vật cản
* Trườn theo hướng thẳng
* Trườn qua vật cản
4
Vận động thể hiện sức mạnh cơ bắp
* Ném xa
* Bật tại chỗ
* Bật qua vạch kẻ
* Kết quả của biện pháp:
Nhờ việc lập kế hoạch khoa học, phù hợp: Trẻ được luyện tập vận động một cách có hệ thống, không gò bó. Phù hợp với từng đối tượng trẻ, trẻ hứng thú, tích cực tham gia hơn. Kỹ năng vận động của trẻ được củng cố và phát triển rõ rệt.
Biện pháp 2: Lấy trẻ làm trung tâm khi tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng vận động.
* Tác dụng của biện pháp
Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và thế mạnh của từng trẻ, giáo viên cần tin tưởng rằng mỗi trẻ đều có thể thành công và tiến bộ, tạo cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau. Qua đó, giúp giáo viên có thể lựa chọn, những bài tập phát triển vận động một cách phong phú, đa dạng, hấp dẫn, tạo hứng thú và thu hút trẻ tham gia vào phát triển vận động.
* Cách thức thực hiện biện pháp
Học mà chơi, chơi mà học giáo viên có thể lồng các vận động vào các trò chơi vận động như trò chơi “Gà trong vườn rau” rèn kỹ năng bật chạy cho trẻ.
Mỗi đứa trẻ đều có sự khác biệt về hoàn cảnh, điều kiện gia đình, môi trường sống và học tập… Do đó, mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt khác nhau về thể chất, tình cảm, mối quan hệ xã hội, trí tuệ, tâm lý. Vậy nên điều cần thiết là giáo viên nắm bắt được đặc điểm từng cá nhân của trẻ. Vận động nào trẻ còn hạn chế để từ đó tiếp tục rèn luyện và phát huy những vận động tích cực của trẻ.
Giáo viên đánh giá mức độ của từng trẻ từ đó điều chỉnh mức độ của bài tập vận động sao cho phù hợp với sự phát triển của riêng cá nhân trẻ. Có nghĩa là
thiết kế cho từng hoạt động có mức độ khó hơn hoặc dễ hơn bằng cách bổ sung hoặc giảm bớt yêu cầu của bài vận động..
* Ví dụ:
Với bài ném trúng đích nếu trẻ đã có kỹ năng tốt ta có thể tăng thêm độ khó bằng cách lùi đích ra xa hơn hoặc với trẻ kỹ năng chưa tốt ta có thể để đích
gần hơn để trẻ ném.
+ Với bài đi trong đường hẹp nếu trẻ khá ta có thể cho trẻ thực hiện kỹ năng đi trong đường hẹp hơn, trẻ yếu thì đi trong đường rộng hơn.
Hình ảnh minh họa: Đi trong đường hẹp và ném bóng trúng đích.
+ Hay với vận động tinh rèn sự khéo léo của các ngón tay trẻ khá sẽ cho xâu hạt vòng nhỏ hơn còn trẻ kỹ năng kém hơn sẽ cho xâu hạt vòng to hơn…
* Kết quả của biện pháp
Tôi thấy trẻ lớp tôi đều rất hứng thú thể hiện khả năng của mình. Mỗi trẻ đều có cơ hội để rèn kỹ năng vận động khác nhau đặc biệt là thông qua hoạt động học và vui chơi.
3. Biện pháp 3: Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt động khác trong ngày.
* Tác dụng của biện pháp:
Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt động. Có thể tận dụng được các đồ vật có sẵn ở môi trường xung quanh, tạo không gian cho trẻ vận động một cách thoải mái không gò bó.
* Cách thức thức thực hiện biện pháp:
Mỗi hoạt động của trẻ đều nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì thế, hoạt động nào cũng có tính chất riêng của nó. Nếu như hoạt động chung được tổ chức nhằm cung cấp các kiến thức cho trẻ thì hoạt động ngoài trời lại giúp trẻ được tự do phát triển vận động phù hợp với sức khỏe của trẻ cụ thể như:
3.1. Thông qua hoạt động học.
* Hoạt động phát triển vận động:
Một hoạt động phát triển vận động thường có 3 phần:
* Khởi động: Rèn kĩ năng đi, chạy cho trẻ. Giáo viên cho trẻ đi các kiểu đi, chạy khác nhau: đi nhanh, đi chậm, chạy nhanh, chạy chậm.
* Trọng động:
+ Bài tập phát triển chung giúp trẻ phát triển đều các nhóm cơ, hô hấp. “Tập với bóng, máy bay, hái hoa…”
+ Vận động cơ bản: Giáo viên lựa chọn các vận động từ dễ đến khó phù hợp với trẻ. Với những trẻ đã thực hiện tốt có thể tăng độ khó hơn, trẻ chưa thực hiện được có thể giảm xuống. Trong một tháng phải đảm bảo thay thổi các vận động
* Ví dụ: Đi theo hướng thẳng, bò chui qua cổng, chạy theo hướng thẳng, bật qua các vòng. Trẻ được giao lưu với các anh chị lớp MGL, trẻ rất hào hứng khi tham gia
+ Trò chơi vận động : Trò chơi vận động không được trùng nhóm cơ với vận động cơ bản.
* Ví dụ: Vận động cơ bản là “Tung bóng” thì trò chơi vận động là “Bong bóng xà phòng”. Vì vận động cơ bản chủ yếu là phát triển nhóm cơ tay thì trò chơi giúp phát triển nhóm cơ chân.
Hồi tĩnh : Trẻ đi nhẹ nhàng điều hòa hô hấp, hít thở
* Hoạt động giáo dục âm nhạc:
Nhằm phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ cho trẻ và thẩm mĩ cho trẻ. Nhưng qua đó cũng cung cấp cho trẻ kỹ năng vận động thông qua các bài vận động theo nhạc hay thông qua các trò chơi âm nhạc “Nhảy theo nhạc” , “Hãy bắt chước”…
* Ví dụ: Khi dạy trẻ vận động theo nhạc bài “Cá vàng bơi” trẻ được vận động nhẹ nhàng theo lời bài hát. Phát triển kỹ năng vận động đặc biệt là sự mềm dẻo của đôi cánh tay, bàn tay của trẻ khi vận động động tác cá vàng bơi.
* Hoạt động làm quen văn học:
Trong hoạt động làm quen văn học, để thu hút sự chú ý và tạo hứng thú cho trẻ, tôi đã đổi mới hình thức tổ chức bằng cách sử dụng tạp dề kể chuyện. Đây là một hình thức trực quan sinh động, phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ 24–36 tháng tuổi, giúp trẻ dễ dàng tiếp cận nội dung câu chuyện.
Khi sử dụng tạp dề, các nhân vật trong truyện được thiết kế bằng hình ảnh ngộ nghĩnh, gắn trực tiếp lên tạp dề của cô. Trong quá trình kể chuyện, cô vừa kể vừa di chuyển các nhân vật, kết hợp với giọng điệu diễn cảm, cử chỉ linh hoạt, tạo nên sự hấp dẫn và cuốn hút đối với trẻ. Hình thức này giúp trẻ:Tập trung chú ý hơn khi nghe kể chuyện.
* Hoạt động tạo hình:
Là một hoạt động mang tính nghệ thuật nhằm cung cấp các kiến thức sơ đẳng về tạo hình cho trẻ thông qua đó phát triển khả năng quan sát tri giác, phân biệt, khả năng phân tích tổng hợp các thao tác tư duy trực quan. Hoạt động tạo hình có ý nghĩa to lớn trong việc rèn kỹ năng vận động cho trẻ mầm non. Để tạo ra sản phẩm trẻ phải sử dụng các kỹ năng tạo hình, kỹ năng sử dụng đồ dùng. Ngoài việc dạy trẻ cảm thụ được cái đẹp từ các sản phẩm trẻ tạo ra, trẻ được rèn luyện các vận động tinh, sự khéo léo của đôi bàn tay thông qua các hoạt động: dán, xé, vò, di màu, nặn, chấm hồ…
* Ví dụ: Trong hoạt động “ Nặn hoa đào”: Trẻ được rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay thông qua việc, nhào bóp đất, véo đất, xoay tròn ấn dẹt tạo ra sản phẩm.
Hình ảnh minh họa: Hoạt động nặn hoa đào và tô màu quả cà chua
3.2: Thông qua các hoạt động khác.
* Hoạt động thể dục sáng:
Thông qua hoạt động thể dục sáng giúp trẻ khởi động một ngày mới. Với các động tác phối hợp phát triển hô hấp và các nhóm cơ qua các động tác tay, chân, bụng , bật giúp trẻ rèn luyện cơ thể khỏe mạnh. Các bài tập được thay đổi theo từng tháng để phù hợp với sự phát triển của trẻ.
* Ví dụ:
+ Tháng 9 : Tập theo nhạc bài: Ồ sao bé không lắc.
+ Tháng 12 : Tập theo nhạc nhà trường
Hình ảnh minh họa: Trẻ tập thể dục sáng
* Hoạt động ngoài trời:
Tận dụng không gian rộng và thoáng mát, tôi đã lựa chọn các trò chơi vận động, trò chơi dân gian nhằm rèn luyện các kỹ năng vận động, sự nhanh nhẹn và phát triển thể lực cho trẻ như trò chơi: Cáo và thỏ; Ô tô về bến… Ngoài ra, các trò chơi này thường tổ chức cho cả lớp được chơi, tôi luôn động viên tất cả trẻ tham gia vào trò chơi càng đông càng vui, tất cả lớp được cùng nhau tham gia chơi trò chơi sẽ tạo sự gắn bó đoàn kết tạo sự thân thiện giữ các bé với nhau.
Trẻ được hoạt động ngoài trời, chơi cầu trượt, xích đu...
Bên cạnh việc tổ chức rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ qua hoạt động trong giờ học, hoạt động ngoài trời trẻ còn được rèn luyện trong giờ hoạt động góc. Trẻ được rèn luyện các vận động thô ở góc vận động: Ném bóng, bật, nhảy...
Hình ảnh minh họa: Trẻ giao lưu với các anh chị lớp lớn
Trẻ được rèn các kỹ năng vận động tinh ở góc sách truyện (giở sách), góc tạo hình (tô màu, nặn, xé…), góc lắp ghép (xâu vòng, lắp ghép), góc bế em (xúc, gắp bón cho búp bê).
Hình ảnh minh họa: Trẻ xâu vòng; Trẻ xem sách truyện
* Trong giờ ăn: Rèn luyện sự khéo léo của đôi bàn tay để xúc cơm.
* Hoạt động chiều:
Rèn cho trẻ các kỹ năng vận động thông qua việc tổ chức các trò chơi dân gian, trò chơi vận động, rèn kỹ năng ở các góc .
Với việc rèn kỹ năng vận động cho trẻ thông qua hoạt động học và hoạt động khác giúp trẻ được vận động một cách thoải mái, đồng thời nhận thức và thể lực của trẻ cũng có chuyển biến rõ rệt trẻ nhanh nhẹn, tự tin trong giao tiếp.
* Kết quả của biện pháp
Sau khi áp dụng những biện pháp này. Việc sử dụng các trò chơi vận động để rèn kỹ năng vận động trẻ đã được lôi cuốn một cách tự nhiên vào trò chơi, trẻ rất hứng thú một cách chủ động không bị gò bó hay ép buộc.
4. Biện pháp 4: Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với hoạt động rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ.
* Tác dụng của biện pháp
Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi vận động cho trẻ nhằm bổ sung làm phong phú các trò chơi từ đó giáo viên chủ động, sắp xếp một cách có hệ thống vào việc rèn luyện các kĩ năng vận động cho trẻ. Trẻ vận động cơ tay, vận động thô, vận động trí não, giúp trẻ phát triển toàn diện.
* Cách thức thực hiện biện pháp:
+ Giáo viên thống kê tất cả các trò chơi vận động theo từng nhóm rèn luyện kĩ năng vận động đã có sẵn trong chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành.
+ Tìm kiếm, sưu tầm các trò chơi vận động khác nhau, phân chia theo từng nhóm nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với lứa tuổi và có tác dụng rèn luyện các kỹ năng vận động cho trẻ.
+ Trên cơ sở các trò chơi phong phú đó giáo viên chọn lựa để lập kế hoạch cho phù hợp với nội dung của mỗi tháng.
* Ví dụ: Tháng 12 giáo viên có thể chọn trò chơi “Hái quả”, “Gieo hạt nảy mầm”.
* Ví dụ: Tháng 3 cho trẻ chơi trò chơi “Đi theo hiệu lệnh” cô sẽ ra hiệu lệnh trẻ đi đến bến chỗ các phương tiện giao thông mà cô sắp xếp sẵn. Trò chơi này củng cố vận động đi và khả năng định hướng trong không gian của trẻ.
1. Một số trò chơi rèn luyện vận động thô.
Để có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các trò chơi rèn luyện vận động thô tôi thường tìm hiểu qua sách báo, tạp chí, qua mạng, học hỏi đồng nghiệp…. Sau đây là một số trò chơi rèn luyện vận động thô cho trẻ:
+ Trò chơi rèn kỹ năng đi và cảm giác thăng bằng: Gắp thú bông, bong bóng xà phòng, ai bắt chước giỏi, chim bay cò bay,bé nào giỏi nhất, bé đi qua cầu, vào rừng chơi, qua suối hái hoa…Nhà trường có phòng thể chất, khang trang với nhiều phương tiện, học liệu phong phú đa dạng cho trẻ hoạt động.
Hình ảnh minh họa: Trẻ chơi gắp thú bằng chân
+ Trò chơi rèn kỹ năng chạy và cảm giác thăng bằng: Chú chim nào nhanh nhất, mèo đuổi chuột, chạy theo hiệu lệnh, trời nắng trời mưa, thi xem ai nhanh, bắt bướm, bánh xe quay…
+ Trò chơi vận động rèn luyện phối hợp kỹ năng đi và chạy: Bong bóng xà phòng, cô đuổi bắt, đuổi nhặt bóng, ai nhanh nhất…
+ Trò chơi vận động rèn luyện các kỹ năng như bò, trườn, trèo, tung, ném bật
: Gấu vào rừng, bò qua cổng, chú bộ đội nhí, ai nhanh nhất, bé nào khéo hơn, chuyển quả.
- Cách tổ chức một số trò chơi cho trẻ 24 - 36 tháng:
* Ví dụ: Bò qua cổng.
+ Mục đích: rèn luyện kỹ năng bò cho trẻ.
+ Chuẩn bị: 8 cổng thể dục cao 50cm, rộng 40 cm. Sau đó cô treo những chiếc chuông nhỏ vào một bên cổng.
+ Cách chơi: Trẻ sẽ bò chui qua cổng sao cho không chạm vào cổng và không làm đổ cổng. Lần 2: cho trẻ bò qua cổng có treo bóng. Trẻ phải bò sao cho không chạm vào bóng. Nếu trẻ nào khi bò mà chạm vào bóng thì giáo viên hướng dẫn để trẻ bò thấp xuống.
* Kết quả :
Sau khi áp dụng những biện pháp này đối với các học sinh lớp tôi thì những kỹ năng vận động của trẻ như : Bò, trườn, đi, ném, tung, bật trẻ tăng lên rõ rệt.
2. Các trò chơi rèn luyện vận động tinh.
* Lật giở trang sách:
* Chuẩn bị: Sách có tranh đẹp, bằng bìa cứng, không nhỏ quá hoặc album về những người thân trong gia đình của trẻ. Tranh về các con vật hay đồ chơi.
* Cách chơi: Cô trải chiếu cho trẻ ngồi. Cô giở từng trang sách cho trẻ biết nội dung tranh. Sau đó cô hướng dẫn trẻ cách lật giở trang sách để trẻ tự giở. Khi trẻ làm, giáo viên lưu ý sửa cho trẻ những thao tác chưa đúng: Dùng cả bàn tay lật, giở cuốn sách.
* Hay dự án giá đỗ:
* Chuẩn bị: Hạt đỗ xanh cô đã ngâm, rổ, khăn ẩm, khay.
* Giáo viên hướng dẫn trẻ dùng tay bốc các hạt đỗ xanh từ khay chuyển sang rổ và khăn cô đã chuẩn bị để làm giá đỗ.
* Mục đích: Giúp trẻ khéo léo, vận động tốt ngón tay, cổ tay đôi bàn tay bằng cách, trộn, nắm, bốc chuyển từ khay sang rổ để làm giá đỗ dưới sự giúp đỡ của cô.…
Hình ảnh minh họa: Dự án giá đỗ
* Xé lá, vò giấy:
* Chuẩn bị: Lá chuối, giấy
* Cách chơi: Vào các giờ chơi, giáo viên cho trẻ chơi xé lá, xé và vò giấy bằng ngón tay trỏ và ngón tay cái cầm để xé lá, giấy.
+ Gấp giấy thành quạt cho trẻ quạt, gấp cái thuyền thả vào nước, gấp quả bóng cho trẻ thổi.
* Bé chơi với bút sáp, đất nặn, giấy màu :
* Chuẩn bị: Hồ nước,sáp màu, giấy, những hình, các loại hoa…
* Cách chơi: Cô kê bàn cho trẻ ngồi. Cho trẻ dùng vẽ tự do trên giấy hoặc tô màu. Cho bé sử dụng đất nặn để chơi theo ý thích. Trẻ sẽ nhào đất nặn và chơi theo ý thích của trẻ. Giáo viên hướng dẫn trẻ véo đất, bóp đất, xoay tròn, ấn dẹt… Ngoài ra, ở nhóm này giáo viên có thể cho trẻ in hình lên trên giấy hoặc chấm hồ để dán hoa trang trí theo ý thích của trẻ. Trò chơi này giúp trẻ sử dụng tốt các ngón tay và cổ tay.
* Xâu vòng:
* Chuẩn bị: Các loại hạt vòng có kích thước to nhỏ khác nhau, màu sắc, hình dạng khác nhau, các loại lá khô ép plastic đục lỗ cho trẻ xâu, các loại hoa, con vật có đục lỗ hoặc hoa giáo viên làm từ ống hút.
* Cách chơi: Giáo viên hướng dẫn cho trẻ kỹ năng xâu vòng. Trẻ xâu xong giáo viên buộc thắt nút vòng lại cho trẻ quan sát.
* Xúc hạt, cho búp bê ăn:
* Chuẩn bị: Búp bê, bát, thìa, các hạt vòng mà trẻ dùng để xâu.
* Cách chơi: Trẻ sẽ dùng thìa xúc các hạt vòng từ bát này sang bát kia. Trẻ sẽ bế búp bê và bón cho búp bê ăn. Trò chơi này rèn kỹ năng xúc cho trẻ rất tốt.
* Hoạt động trải nghiệm ăn Buffet:
Nhà trường xây dựng lên kế hoạch tổ chức ăn Buffet cho trẻ 01 lần/tháng gắn với mỗi sự kiện trong tháng. Với hoạt động này giúp trẻ biết tự phục vụ bản thân, biết lấy thức ăn vừa phải ở từng món ăn để còn thưởng thức những món ăn khác và học được văn hóa xếp hàng người trước người sau, ăn lịch sự, từ tốn. Tổ chức tiệc buffet cho trẻ là một hoạt động bổ ích giúp cho trẻ tiếp cận với những văn hóa, kỹ năng trong cuộc sống hàng ngày, mang dến cho trẻ những trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ, giúp trẻ tự tin hơn.
* Chuẩn bị: Dụng cụ kẹp, một số đồ ăn: xúc xích, phồng tôm, khoai tây chiên, rau củ luộc, tôm chiên…
* Giáo viên hướng dẫn trẻ dùng kẹp để kẹp lấy thức ăn từ đĩa vào bát của mình. Hoạt động này giúp trẻ khéo léo khi sử dụng các ngón tay và cổ tay.
Hình ảnh minh họa: Trẻ dùng kẹp lấy đồ ăn
* Chơi với các ngón tay:
* Cách chơi: Cô cho trẻ ngồi đối diện với cô. Cô giơ bàn tay lên và giơ từng ngón tay. Cô đọc: “Một ngón tay nhúc nhích, hai ngón tay nhúc nhích, ba ngón tay nhúc nhích, bốn ngón tay nhúc nhích, cả bàn tay nhúc nha nhúc nhích”.
* Xây tháp, chồng khối, xếp đồ vật:
* Chuẩn bị: Các loại khối hình vuông, tam giác, chữ nhật
* Cách chơi: Trẻ sẽ dùng các khối vuông xếp chồng để xây tháp theo khả năng của trẻ, xếp nhà cao tầng, xếp tòa lâu đài, xếp đường đi, xếp tàu hỏa, xếp ô tô…
Hình ảnh minh họa: Trẻ xếp chồng theo ý thích
Ngoài ra, khi lựa chọn trò chơi giáo viên cần lưu ý trò chơi vận động cho trẻ 24 - 36 tháng phải phù hợp với nội dung, nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ, phù hợp với khả năng vận động của trẻ. Cường độ khối lượng vận động trong trò chơi vừa phải, phù hợp với độ tuổi. Trò chơi phải có sự phối hợp các kỹ năng vận động với nhau. Trò chơi phải hấp dẫn kích thích trẻ tích cực vận động. Giáo viên có thể thay đổi hình thức chơi, trò chơi nếu trẻ không còn hứng thú.
* Kết quả của biện pháp
* Trẻ mạnh dạn, tự tin, nhanh nhẹn, khéo léo hơn qua các kĩ năng vận động, rèn luyện các tố chất và phát triển tốt về thể lực cho trẻ.
* Trẻ hứng thú và hoạt động tích cực hơn.
* Giúp trẻ được vui chơi thoải mái, tinh thần sảng khoái, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt.
Biện pháp 5. Phối hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh, y tế và nuôi dưỡng trong việc rèn các kỹ năng vận động cho trẻ.
* Tác dụng của biện pháp
Việc phối hợp giữa gia đình - nhà trường - y tế - nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển toàn diện cho trẻ, đặc biệt là phát triển vận động. Sự thống nhất trong cách chăm sóc, giáo dục và rèn luyện giúp trẻ được luyện tập thường xuyên, liên tục, từ đó: Nâng cao hiệu quả rèn luyện các kỹ năng vận động. Hình thành thói quen vận động tích cực cho trẻ. Đảm bảo sức khỏe, thể lực và sự phát triển cân đối. Tăng cường mối liên kết giữa gia đình và nhà trường.
* Cách thức thực hiện biệp pháp
Để thực hiện tốt biện pháp này, tôi đã tiến hành các nội dung sau:
1. Phối hợp với phụ huynh
* Trao đổi thường xuyên với phụ huynh về tình hình phát triển vận động của trẻ thông qua giờ đón – trả trẻ, nhóm Zalo
* Hướng dẫn phụ huynh một số bài tập vận động đơn giản để rèn luyện cho trẻ tại nhà như: đi theo đường thẳng, bò chui qua vật cản, tung – bắt bóng…
* Tuyên truyền về vai trò của vận động đối với sự phát triển thể chất của trẻ
* Khuyến khích phụ huynh tạo môi trường cho trẻ vận động: cho trẻ chơi ngoài trời, hạn chế cho trẻ sử dụng thiết bị điện tử
Hình ảnh minh họa: Phản hồi của Phụ huynh
2. Phối hợp với nhân viên y tế
* Theo dõi, kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ
* Phối hợp đánh giá thể lực, tình trạng phát triển của trẻ
* Tư vấn chế độ vận động phù hợp với thể trạng từng trẻ
* Đảm bảo an toàn trong quá trình tổ chức các hoạt động vận động
Hình ảnh: Phối hợp với TTYT phường cân đo, khám sức khoẻ cho trẻ
3. Phối hợp với bộ phận nuôi dưỡng
* Xây dựng thực đơn đảm bảo dinh dưỡng, phù hợp với độ tuổi
* Đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ các chất giúp phát triển thể lực
* Phối hợp chăm sóc trẻ ăn ngủ khoa học để trẻ có đủ sức tham gia vận động
Ví dụ minh họa
* Tôi chia sẻ video, hình ảnh các bài tập vận động của trẻ lên nhóm Zalo để phụ huynh theo dõi và thực hiện cùng con tại nhà
* Phụ huynh phản hồi bằng hình ảnh, video trẻ luyện tập ở nhà
-Phối hợp với y tế theo dõi những trẻ thể lực yếu để có hướng rèn luyện phù
hợp
* Trao đổi với cấp dưỡng để điều chỉnh khẩu phần ăn cho trẻ biếng ăn, chậm
phát triển
Hình ảnh minh họa : Họp trường
* Kết quả của biện pháp
* Phụ huynh quan tâm và phối hợp tích cực hơn trong việc rèn luyện vận động cho trẻ
* Trẻ được luyện tập thường xuyên cả ở trường và ở nhà, kỹ năng vận động được nâng cao rõ rệt
* Thể lực của trẻ được cải thiện, trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn hơn
* Mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh ngày càng gắn bó, hiệu quả
* Chất lượng hoạt động phát triển vận động trong lớp được nâng cao
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị:
Giải pháp sáng kiến không chỉ mang lại hiệu quả thiết thực về kinh tế và thời gian mà còn góp phần nâng cao chất lượng của nhà trường và các hoạt động của lớp. Cụ thể:
+ Về phía giáo viên:
* Bản thân tôi đã hiểu biết được nhiều hơn, rõ hơn về hoạt động phát triển vận động cho trẻ, luôn sáng tạo đổi mới hình thức tổ chức.
* Có ý thức tự tìm tòi các hoạt động sáng tạo phù hợp với lứa tuổi mầm non.
* Luôn ứng dụng giáo dục tiến tiến, công nghệ thông tin vào các hoạt động cho trẻ.
* Khi tổ chức các hoạt động cho trẻ luôn chủ động tự tin, mang đến cho trẻ sự thích thú và hào hứng.
* Tạo được sự tin yêu của phụ huynh, luôn được phụ huynh hưởng ứng và nhiệt tình tham gia các hoạt động của trường, lớp.
+ Về phía trẻ:

hơn.
________________
* Trẻ rất thích đến trường, lớp và yêu các hoạt động hơn, hào hứng học tập

* Trẻ hoạt động tích cực hơn, tập trung hơn trẻ không còn nhàm chán khi vận
động, trẻ hứng thú hiệu quả và có sự giao lưu thân thiện giữa các nhóm.
* Trẻ có kĩ năng hoạt động nhóm tốt hơn, biết quan tâm, giúp đỡ các bạn và luôn luôn hoàn thành công việc được giao
+ Về phía phụ huynh:
* Nhiệt tình hưởng ứng và tích cực tham gia các hoạt động của lớp, của trường.
* Luôn đồng hành, ủng hộ, hỗ trợ giáo viên trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu làm đồ dùng.
* Phụ huynh rất hài lòng và tin tưởng với sự dạy dỗ của cô giáo và nhà trường.
4. Hiệu quả của sáng kiến:
1. Hiệu quả về khoa học:
Các biện pháp đưa ra được thực hiện mới hơn, quá trình thực hiện đạt hiệu quả cao hơn. Giáo viên đổi mới hình thức khi đưa cộng nghệ thông tin vào tổ chức hoạt động. Linh hoạt, sáng tạo trong các hoạt động phát triển vận động cho trẻ.
2. Hiệu quả về kinh tế:
Giáo viên tiết kiệm được về mặt thời gian, biết cách nâng cao trình độ chuyên môn. Xây dựng kế hoạch và hình thức tổ chức sáng tạo, linh hoạt để tiết kiệm kinh phí trong quá trình tổ chức hoạt động. Giáo viên xây dựng kế hoạch chủ yếu sử dụng vật liệu tái chế và sẵn có nên đỡ tốn công làm đồ dùng, không tốn tiền mua đồ dùng, nguyên vật liệu.
3. Hiệu quả về xã hội:
Giáo viên linh hoạt, sáng tạo trong các hoạt động trên lớp. Các hoạt động có sự đổi mới, sáng tạo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, chuẩn bị mọi tâm thế khi trẻ đến lớp. Nắm chắc kiến thức chuyên môn và có thể áp dụng vào tổ chức các hoạt động cho trẻ đạt hiệu quả.
Luôn tâm huyết, cố gắng trong mọi hoạt động nói chung và hoạt động chuyên môn nói riêng.
5. Tính khả thi (khả năng áp dụng vào thực tiễn công tác của đơn vị, địa phương…):
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động” không chỉ áp dụng cho giáo viên khối nhà trẻ 24 – 36 tháng của trường Mầm non Hoàng Tăng Bí mà còn có thể áp dụng cho toàn thể giáo viên trong trường.
6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến:
Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Đổi mới hình thức gây
hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động” từ tháng 9/2025 đến tháng 3/2026.
7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến:
Đề tài/sáng kiến được thực hiện chủ yếu dựa trên các nguồn lực sẵn có tại lớp và nhà trường, không đòi hỏi kinh phí lớn. Cụ thể:
Tận dụng cơ sở vật chất hiện có: Sử dụng các dụng cụ, thiết bị vận động sẵn có của nhà trường như: bóng, vòng, cọc thể dục, thảm, ghế thể dục…
Tự làm đồ dùng, đồ chơi: Giáo viên chủ động sáng tạo, tận dụng nguyên vật liệu sẵn có, phế liệu an toàn (chai nhựa, hộp giấy, bìa cứng…) để làm đồ dùng phục vụ các bài tập vận động.
Huy động sự hỗ trợ từ phụ huynh: Phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu hoặc hỗ trợ làm đồ dùng đơn giản, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả.
Kinh phí phát sinh (nếu có): Một số chi phí nhỏ như mua bổ sung vật liệu, in ấn tài liệu… nhưng không đáng kể.
3. KẾT LUẬN
1. Kết quả của việc ứng dụng sáng kiến:
Qua một thời gian áp dụng một số biện pháp và hình thức tổ chức hoạt động phát triển vận động cho trẻ trong tổ chức hoạt động giáo dục hàng ngày tôi thấy có những kết quả như sau:
Bảng khảo sát trẻ cuối năm học (Tháng 3/2026)

STT

Nội dung

TS
trẻ
Kết quả trẻ đạt
Trước khi
thực hiện
Sau khi thực
hiện
Số trẻ
đạt
Tỷ lệ
(%)
Số trẻ
đạt
Tỷ lệ
(%)

1
Trẻ khỏe mạnh, cân nặng, chiều cao đảm bảo theo độ
tuổi.

35

10

28,5

35

100

2
Trẻ biết kỹ năng vận động
đi, chạy.
8
22,8
33
94,2

3
Trẻ biết kỹ năng vận động bật, nhún.
7
20
30
85,7

4
Trẻ biết kỹ năng vận động
bò, trườn, trèo.
10
28,5
31
88,5

5
Trẻ biết kỹ năng vận động
đẩy, ném, bắt, tung.
9
25,7
29
82,8

6
Trẻ biết kỹ năng vận động khéo léo của đôi bàn tay và
các ngón tay.

8

22,8

27

77,1

7
Thực hiện được một số việc tự phục vụ đơn giản, một số thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày.

10

28,5

32

91,4
2. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu:
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài “Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động”, tôi rút ra một số kết luận sau:
Trước hết, việc đổi mới hình thức tổ chức hoạt động là yếu tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến mức độ hứng thú và sự tham gia tích cực của trẻ. Khi giáo viên biết linh hoạt sử dụng các hình thức đa dạng như: tạp dề kể chuyện, rối
tay, trò chơi vận động, âm nhạc…, trẻ sẽ bị thu hút, chú ý và chủ động tham gia hoạt động một cách tự nhiên, không gò bó.
Bên cạnh đó, việc tổ chức hoạt động phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và khả năng của từng trẻ giúp phát huy tối đa tiềm năng vận động, đồng thời tạo cho trẻ cảm giác tự tin, mạnh dạn khi tham gia. Trẻ được trải nghiệm thông qua “chơi mà học”, từ đó các kỹ năng vận động cơ bản như đi, chạy, bò, bật… được hình thành và phát triển rõ rệt.
Ngoài ra, sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên về kế hoạch, đồ dùng, môi trường hoạt động cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tổ chức. Giáo viên cần thường xuyên đổi mới, sáng tạo, tránh lặp lại hình thức để duy trì sự hứng thú lâu dài cho trẻ.
Bên cạnh đó, quá trình thực hiện đề tài cũng cho thấy việc gây hứng thú cho trẻ cần được duy trì thường xuyên, liên tục trong mọi hoạt động hàng ngày. Khi trẻ được học tập trong môi trường vui tươi, thoải mái, có sự đổi mới về hình thức tổ chức, trẻ sẽ hình thành thói quen tích cực tham gia hoạt động, từ đó phát triển vận động một cách tự nhiên và bền vững. Đồng thời, sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, phụ huynh và các bộ phận trong nhà trường là yếu tố then chốt giúp nâng cao hiệu quả giáo dục.
Từ những kết quả đạt được có thể khẳng định rằng: đổi mới hình thức gây hứng thú là giải pháp thiết thực, hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng hoạt động phát triển vận động cho trẻ 24–36 tháng tuổi, đồng thời góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện trong trường mầm non.
3. Những kiến nghị, đề xuất:
1. Đối với nhà trường
Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, thu hút sự quan tâm, đóng góp ủng hộ nhà trường đầu tư thiết bị, đồ chơi phát triển vận động cho trẻ mầm non và phối hợp với nhà trường trong việc hình thành một số thói quen tốt trong ăn uống, vệ sinh cá nhân, giữ gìn sức khỏe và an toàn, những thói quen vận động cần thiết cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ.
Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, chia sẻ kinh nghiệm về đổi mới hình thức tổ chức hoạt động
Khuyến khích giáo viên sáng tạo, ứng dụng các phương pháp giáo dục mới
2. Đối với giáo viên
Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề phù hợp với điều kiện của nhóm lớp mình và khả năng nhận thức của trẻ.
Thực hiện nghiêm túc quy chế chăm sóc giáo dục một ngày của trẻ, chuẩn bị đồ chơi, vật liệu chơi đáp ứng nhu cầu hứng thú của trẻ, thể hiện sự tôn trọng trẻ trong tổ
chức, hướng dẫn trẻ, tạo cơ hội cho mọi trẻ được tham gia, hỗ trợ trẻ trong quá trình tham gia hoạt động.
Tích cực nghiên cứu tài liệu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình từ đó áp dụng vào thực tiễn nhà trường.
Quan tâm đến đặc điểm cá nhân của từng trẻ để lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp
Linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động gây hứng thú cho trẻ Trên đây là những biện pháp của tôi trong quá trình tổ chức hoạt động phát
triển vận động cho trẻ. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, ý kiến của ban giám hiệu và các đồng nghiệp để bản sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2026
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép của người khác.
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ HIỆU TRƯỞNG

Vương Thị Anh
Người viết sáng kiến
(Ký tên)

Đỗ Thị Thu Hường

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Chương trình Giáo dục Mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số 51/2020/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung).
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mầm non.
3. Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Giáo dục học mầm non, NXB Đại học Sư phạm.
4. Trần Thị Ngọc Trâm, Tổ chức hoạt động phát triển vận động cho trẻ mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam.
5. Lê Thị Ánh Tuyết, Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm.
6. Website Bộ Giáo dục và Đào tạo: https://moet.gov.vn
7. Một số tài liệu, sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp trong nhà trường và trên các diễn đàn giáo dục mầm non.
PHỤ LỤC
Biện pháp 1: Lập kế hoạch phát triển vận động giúp giáo viên lựa chọn những bài vận động phù hợp

Hình ảnh minh họa: Bò chui qua cổng
Biện pháp 2: Lấy trẻ làm trung tâm khi tổ chức các hoạt động rèn luyện kĩ năng vận động

Hình ảnh minh họa: Ném bóng trúng đích

Hình ảnh minh họa: Trẻ đi trong đường hẹp

Hình ảnh minh họa: Trẻ chơi với bóng
Biện pháp 3 : Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt động khác trong ngày

Hình ảnh minh họa: Trẻ tập thể dục sáng

Hình ảnh minh họa: Bé nặn hoa đào và tô màu quả cà chua

Hình ảnh: Trẻ xâu vòng

Hình ảnh minh họa: Trẻ xem sách truyện

Hình ảnh minh họa: Trẻ chơi bập bênh

Hình ảnh minh họa: Trẻ giao lưu với các anh chị lớp lớn
Biện pháp 4: Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với hoạt động rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ

Hình ảnh minh họa: Trẻ chơi gắp thú bằng chân

Hình ảnh minh họa: Trẻ giao lưu với các anh chị khối mẫu giáo

Hình ảnh minh họa: Dự án Giá đỗ

Hình ảnh minh họa: Trẻ ăn Buffet

Hình ảnh minh họa: Trẻ xếp chồng theo ý thích
Biện pháp 5: Phối hợp chặt chẽ với các bậc Phụ huynh, y tế, nuôi dưỡng trong việc rèn các kỹ năng vận động cho trẻ

Hình ảnh minh họa: Phản hồi của PH

Hình ảnh minh họa: Họp trường

Hình ảnh minh họa: Phối hợp với TTYT phường khám sức khỏe cho trẻ

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
  • SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5–6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo.
    SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5–6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo.
    03/09/2026
  • SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.
    SKKN Một số biện pháp đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động.
    27/08/2026
  • PP BIỆN PHÁP  “Thông qua trò chơi ở một số hoạt động trong ngày, rèn kỹ năng đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông đường bộ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi 3 tại trường mầm non
    PP BIỆN PHÁP “Thông qua trò chơi ở một số hoạt động trong ngày, rèn kỹ năng đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông đường bộ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi 3 tại trường mầm non
    11/12/2025
  • SKKN Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non.
    SKKN Một số biện pháp tích hợp giáo dục quyền con người trong các hoạt động cho trẻ 4-5 tuổi tại trường mầm non.
    09/12/2025
  • SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp 4-5 tuổi  trường Mầm non
    SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp 4-5 tuổi trường Mầm non
    07/12/2025
  • SKKN Các biện pháp rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3-4 tuổi
    SKKN Các biện pháp rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3-4 tuổi
    07/12/2025
  • SKKN Một số giải pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi làm quen với toán qua các con số, phép đếm, về kích thước, hình dạng
    SKKN Một số giải pháp giúp trẻ 5 – 6 tuổi làm quen với toán qua các con số, phép đếm, về kích thước, hình dạng
    06/12/2025
  • SKKN Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
    SKKN Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
    06/12/2025
●
●
★
Giáo Án Mầm Non

Giáo Án Mầm Non

Thư viện tài liệu giáo dục dành cho giáo viên mầm non.

Danh mục

Nhà Trẻ Khối Mầm Khối Chồi Khối Lá Sáng Kiến Kinh Nghiệm Video Dạy Giỏi

Liên hệ

✉Email: dev-email@wpengine.local ☎Hỗ trợ: Liên hệ hỗ trợ ♥Đăng ký tài khoản

Theo dõi chúng tôi

© 2026 Giáo Án Mầm Non. Bảo lưu mọi quyền.
Trang chủ • Liên hệ • Bảo mật